Hoa Hồng

By Đoàn Thanh Thủy


More...

Ngày QUỐC TẾ THIẾU NHI : 01/6

By Đoàn Thanh Thủy

NHÂN NGÀY qUỐC TẾ THIẾU NHI 01/06: "Vui cùng cháu ngoại"
 
Bach Thuy

 

 Con gái đầu "Bạch Thúy" - ký họa màu nước - 1980

 --*--

"Tú Sơn" - cháu ngoại (ông ngoại chụp ảnh đó) 

 

Tu Son 08

More...

Slide

By Đoàn Thanh Thủy

 slide 

 


 

 

 

More...

HAPPY VALENTINE S DAY !

By Đoàn Thanh Thủy

More...

Hoa Hồng Kỷ Niệm

By Đoàn Thanh Thủy

More...

Không gian Thơ

By Đoàn Thanh Thủy


KHÔNG GIAN THƠ
(tranh Đoàn Thanh Thủy )
cảm tác từ bài NGUYÊN TIÊU KHÔNG TRĂNG của Võ Ngọc Thọ

 
NGUYÊN TIÊU KHÔNG TRĂNG
 
Qui Nhơn
Đêm thơ Nguyên tiêu không trăng
Trời buồn
hay Hàn Mặc Tử dấu trăng nơi khác
Thơ hay thùng nước lèo thập cẩm
giao lưu tuồng tân cổ giao duyên và một ít thơ

Không còn cô nàng bán thơ dưới trăng
Không còn tiếng thơ vọng từ sóng biển
Nàng thơ lang thang bãi cát
Đêm rằm không trăng...

Võ Ngọc Thọ 
nguồn http://vongoctho.vnweblogs.com

More...

Mừng năm mới 2009

By Đoàn Thanh Thủy

Kính chúc năm mới:
"AN KHANG THỊNH VƯỢNG HẠNH PHÚC!"
Đoàn Thanh Thủy

Percivariana 
Hoa Phong lan Percivariana [tranh của Đoàn thanh Thủy]

More...

Vương vấn mùa sen

By Đoàn Thanh Thủy

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu:

Vương vấn mùa sen

    "Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa "
(Truyện Kiều Nguyễn Du)

           Ở vùng quê tôi có nhiều đầm sen. Người quê tôi lời ăn tiếng nói khá phong phú. Cũng cái vũng trồng sen thôi nhưng vũng trồng sen mênh mông ở giữa đồng thì gọi là đầm sen hay bàu sen vũng trồng sen ở trước đình chùa thì gọi là hồ sen còn cái vũng trồng sen nho nhỏ ở bên nhà bên đường cái quan gọi là ao sen. Hoa sen có sen hồng sen trắng sen vàng và ngát hương. Trong đầm sen thường mọc lẫn hoa súng cùng họ hàng với hoa sen. Có người vì yêu quá đã gọi hoa sen là hoa quân tử hoa súng là hoa tiên tử .

           Tôi có nhiều kỷ niệm thời thơ ấu với cái bàu sen làng quê mình. Cái bàu sen ấy rộng tới mấy mẫu đất thông với một nhánh của con Sông Côn chảy qua làng bằng một khúc mương nhỏ đầy bèo lục bình và lúc nào cũng nghe tiếng cá đớp lách tách dưới chân bèo. Mẹ tôi nghèo quanh năm làm lụng trên cánh đồng làng. Buổi sáng mẹ ra đồng tôi và thằng Uùt lên năm ra ngõ nhìn theo bóng mẹ chân nam đá chân chiêu đi về phía bàu sen ở cuối đồng; buổi chiều thằng Út và tôi ra ngõ trông mẹ về nhìn bóng mẹ từ phía bàu sen liêu xiêu trở về mà thương nỗi nhọc nhằn của mẹ. Mùa Hè có hôm tôi xin theo mẹ ra đồng để được nhìn ngắm bàu sen đang nở hoa. Tôi còn nhớ ngày thơ ngày hai buổi cắp sách đến trường. Lũ học trò trường làng chúng tôi đi trên đường cái quan mắt nhìn những ao sen nở hoa ở hai bên đường và bảo nhau rằng hoa sen đang chào đón "những bước chân non chúng mình đi học . Rồi mùa hè qua đi sen tàn ao sen trống trơn lòng chúng tôi man mác buồn chỉ còn biết chờ đợi mùa sen năm sau. Lớn lên một chút tôi ra khỏi làng đi học trường huyện đi theo mẹ về ngoại về chùa trong những ngày chùa có lễ Phật...Tôi gặp rất nhiều bàu sen và không còn chỉ yêu cái bàu sen ở làng mình mà còn yêu những bàu sen ở các làng khác. Tôi yêu cái hồ sen ở trước nhà Cụ Biểu Xuyên (thôn Biểu Chánh - Phước Hưng) một nhân sĩ ưu thời mẫn thế một hưu quan trí sĩ có tiếng trong vùng Tuy Phước An Nhơn. Cái hồ sen nở một màu trắng bát ngát và điểm xuyết những bông hoa súng đỏ nối tiếp là cánh đồng làng thường chấp chới cánh cò bay và lững thững những bóng nông phu đi về. Tôi yêu cái hồ sen trước cổng tam quan chùa Viên Giác ngoại vi ngôi thành Bình Định cũ hoang phế. Cái hồ sen hình vuông rộng đến mười ngàn mét vuông được bao quanh bởi một bờ hồ xây bằng vôi vữa và đá ong đã lắm rêu phong. Mùa sen nở hoa sen sáng rực mặt hồ và hương sen thơm ngát một vùng. Mùa sen tàn mặt hồ như tấm gương soi và đợi đến đêm Rằm Vu lan tháng bảy làm nơi cho nhà chùa có hội phóng đăng cầu siêu và hóa độ cho thập loại cô hồn.

          Xưa nay văn chương viết về hoa cúc hoa đào hoa mai...thường là văn chương bác học văn chương của người học thức; còn văn chương viết về hoa sen là văn chương của mọi giới bác học có mà bình dân cũng có.

        Người nông dân làm đồng có giây phút nghỉ ngơi thả hồn theo mây theo gió hứng lòng cất lên tiếng hát trước một vẻ đẹp của đồng quê: Trong đầm gì đẹp bằng sen / Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng" ...(Ca dao). Xa quê lâu   người ta nhớ quê nhớ cái đầm sen giếng nước của làng quê mình: Đầm Đại Từ hoa sen thơm ngát / Giếng Đại Từ  nước mát trong xanh (Ca dao). Con trai con gái làng tỏ bày tình yêu không thể thiếu hình ảnh hoa sen: Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen..." (Ca dao).

          Các nhà thơ nhà văn xưa nay đã sáng tác nên biết bao nhiêu là thơ văn có liên quan đến đề tài hoa sen. Nhà thơ Trung Quốc - đời Đường khắc họa hình ảnh một thiếu nữ hái sen cảnh xinh mà người xinh đến vô tư : Tiểu oa sanh tiểu đỉnh / Thâu thái bạch liên hồi / Bất giải tàng tung tích / Phù bình nhất đạo khai ( Trì thượng - Bạch Cư Dị). Dịch thơ: Người xinh bơi chiếc thúng xinh / Bông sen trắng nõn trắng tinh thó về / Hớ hênh dấu vết không che / Trên ao để một luồng chia mặt bèo (Trên ao - Tản Đà). Ai chẳng tình cờ nghe thấy một hương sen đâu đó quanh mình để mãi thương nhớ: Hà hoa suy khởi bắc song hương (Hạ cảnh - Trần Thánh Tông). Mát dịu mùi sen thổi trước nhà   (Ngô Tất Tố dịch). Ai chẳng gặp một hồ sen tàn một cánh sen cô độc lẻ loi còn sót lại để cho lòng mãi ngùi thương: Cánh sen chiều / Nở bên ga xép / Một niềm quạnh hiu   (Shiki - thiền sư Nhật Bản). Tác giả danh tác Truyện Kiều - Nguyễn Du đã "thiên biến vạn hóa" hình tượng hoa sen trong thơ của mình. Tả hồn ma Đạm Tiên: Sương in mặt tuyết pha thân / Sen vàng lãng đãng như gần như xa" . Tả bước chân Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng: Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường . Kim Trọng - Thúy Kiều gặp gỡ tâm tình sau 15 năm lưu lạc: "Những từ sen ngó đào tơ / Mười lăm năm mới bây giờ là đây". Và còn nhiều nữa. Hạt sen lấy từ trong gương sen ra bóc vỏ nấu ăn như cơm cũng ngon lắm (Nguyễn Khải - Nghề văn cũng lắm công phu trang 111). Sinh thời mẹ tôi vẫn nấu chè hạt sen cúng Phật nhân các ngày sóc vọng trong tháng. Anh em tôi được ăn chè hạt sen do mẹ nấu: ngọt bùi thơm mát để nay còn nhớ nhung.

         Trà ướp sen theo kiểu Sư ông chùa Viên Giác (đã viên tịch năm 1965) là thượng hảo hạng. Trà Thiết Quan Aâm Đài Loan chia thành túm nhỏ gói giấy trắng mỏng. Chiều hôm trước khi mặt trời vừa mới lặn và sương chiều bắt đầu buông xuống ngài bơi thuyền ra giữa hồ đặt những túm trà vào giữa lòng những búp sen hàm tiếu để cho trà ướp cái hương sen phong nhụy ấy qua đêm. Sớùm ngày sau từ sau buổi tụng kinh công phu sáng ngài lại bơi thuyền đi thu lại những túm trà ấy và hứng luôn những giọt sương đêm đọng lại trên lá sen lá súng đem về làm nước pha trà. Chờ khách đến ngài đích thân quạt lò than đun nước đích thân tráng bình độc ẩm pha trà để tiếp khách. Trà sen rót ra chén độc ẩm màu nước vàng hơi ngả xanh bốc hương thơm. Người uống trà cầm tách trà nóng lên uống nghe thấy hết cái hương vị của trà nhất là uống trong khung cảnh già lam thanh tịnh thì không thể tả cho hết cái niềm cảm khái dâng lên trong hồn mình.

 H. K. B                                                                       


 

Địa chỉ:

Huỳnh Kim Bửu

162 /32 /18 Nguyễn Thái Học TP Quy Nhơn

tỉnh Bình Định. ĐT: (056) 3524406. DĐ: 0958501562

More...

Mừnh Giáng Sinh

By Đoàn Thanh Thủy

Chúc Mừng Giáng Sinh: An Bình và Hạnh Phúc!

 

 

More...

Mang Viên Long đọc TUYỆT HUYẾT CA

By Đoàn Thanh Thủy


Xem trước bài viết
  ĐỌC " TUYỆT HUYẾT CA " Thơ ĐẶNG TẤN TỚI Tiểu luận Mang Viên Long

"TUYỆT HUYẾT CA" CỦA ĐẶNG TẤN TỚI

Tại sao tôi chọn đọc thi phẩm "Tuyệt huyết ca" mà không là "Thi Thiên" (tác phẩm thứ tư phát hành mùa Thu Quí Sửu) hay thi phẩm mới nhất vừa phát hành trong mùa Xuân 1974 là "Trúc Biếc" của Đặng Tấn Tới ? Tại sao là một tập thơ mỏng manh được in ra vội vàng trong một năm đầy biến cố (mùa hè 1972) kỹ thuật trình bày cũng xoàng xỉnh mà không là một tập nào trong 04 tập thơ xem như được độc giả lưu ý nhiều nhất ?                              

      Chọn đọc "Tuyệt Huyết Ca" tôi cần nói tới hai điều :

      1-Nỗi bi thiết tuyệt diệu và vô cùng của kẻ sĩ Việt Nam (hay nói cách khác: Nỗi bi thiết tuyệt diệu và vô cùng của người nghệ sĩ Việt Nam) hai mươi năm "lạnh nghe hồn réo mười phương Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn".

      2-Minh chứng lần chót nhưng không phải là thừa thãi không có sự phân chia (không phải sự tìm hiểu nghiên cứu) nào trong Thi ca là thích hợp ; hay nói cách khác không thể uốn nắn xếp loại một cách gượng ép cứng nhắc với nhiều ác ý để từ đó đưa ra những luận cứ nhất thời rất hàm hồ về những thi phẩm đã được giới thiệu.               

      Phần một (xin tóm tắt) : Thi phẩm "Tuyệt Huyết Ca" gồm 27 đoạn thơ song thất lục bát tất cả 108 câu thơ chung quanh một nhan đề chính đã được chọn. Sử dụng lối thơ cổ truyền Việt Nam để diễn tả những khúc ca máu hồng tuyệt vời của dân tộc Đặng Tấn Tới đã dồn hết rung cảm tích tụ kỳ diệu bao năm giữa "Trăng cổ độ ố mầu tăng hải Trải thu phần quan tái vài bông"  trong cảnh tượng đời sống ghê khiếp như ma quái "Người vất vưởng tận hang cùng cốc. Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương" vào thời gian được ghi nhận là biến loạn nhất trong hai mươi năm chinh chiến.

      Tôi tạm chia "Tuyệt Huyết Ca" thành một bố cục như sau : Đoạn một : (08 câu đầu) Tình cảm mang mang thúc đẩy lần viết (hay lần mở) từng trang tuyệt huyết của Dân tộc. Đoạn hai : (72 câu tiếp) có thể chia làm 04 tiểu đoạn. Tiểu đoạn a: (08 câu) Viết (hay mở) với tư thái thong dong trang trọng chua xót và có chút gì như là chán nản. Tiểu đoạn b : (16 câu) . Những trang đầu tiên - là một cuộc tao ngộ kỳ bí đưa đẩy tác giả túy lúy trong cảnh "Sông nước chảy chiêm bao máu rạn. Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương". Tiểu đoạn c: (16 câu) . từ cuộc hội ngộ "chung tuyệt huyết" tri kỷ trên thảm cảnh ma quái trần gian tỏ lộ sáng ngời như đời sống ngày đêm của Dân tộc đã hai mươi năm "Người vất vưởng tận hang cùng cốc/ Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương/ Máu khô thịt nát bên đường Rợp mầu tinh huyết đò dương đắm chìm". Tiểu đoạn d : (32 câu) . Thái độ tìm thấy khi đã kinh qua cảnh đoạn trường (ở đây cũng là tâm sự thái độ của kẻ sĩ - hay nghệ sĩ đối với mọi biến động) : Giải quyết những nỗi ưu tư bi thiết bằng sự an ủi của chính mình bằng sự xoa dịu của đôi mắt nhân ái trầm buồn của Phật Lão và sau rốt bằng vào sự hy vọng (vẫn còn hy vọng) : "Non nước cũ rạng ngời sông núi / Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây / Nước trôi mây cuốn chưa đầy / Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng". Đoạn 3  (28 câu cuối): Con người đau khổ thống thiết từ đầu (cuộc tao ngộ) đã đổi khác : Ở đây là một cõi mới một đời sống tiên cảnh lạ thường hay là một cõi chiêm bao mộng mị của đa số nghệ sĩ Việt Nam. Nhờ đâu con người (em Nguyên Thủy) đã chết với máu me với hình hài tiều tụy với xương trắng cát lạnh đã được sống lại vào đoạn kết ? Nhờ đâu? Xin thưa : Nhờ niềm hy vọng. Nhờ ước mơ. Nhờ mơ tưởng. Nhưng phải chăng mọi hy vọng ở tương lai cũng chỉ là chiêm bao ? Đoạn kết : "Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng/ Bàn chân không lùa sóng vô biên/ Ta đi dạo khắp cõi miền/ Này là phố thảo kia triền xóm hoa".

      Đặng Tấn Tới trong "Tuyệt Huyết Ca" không phải u mặc như Tâm Thu Kinh cũng không gảy những đoản khúc du dương (hân hoan hay bi lụy) liếc ngó đời  sống với đôi mắt nhuốm đượm màu sắc Lão Trang - một thái độ ẩn dấu e dè nản chán - đó là thái độ hay tâm sự của kẻ sĩ hiện thời. Trong 108 câu thơ ở "Tuyệt Huyết Ca" đã kéo được tấm màn cho ngần ngại cho thấy rõ ràng một hình ảnh của nhà thơ : Đây là những hình ảnh trung thực gần gũi linh hoạt chứa chất nhiều tâm sự bi đát (không giấu diếm - qua những cái nhìn đến tư tưởng) có thể đại diện cho đa số kẻ sĩ (hay nghệ sĩ) hiện thời : Thương nhớ quê hương xót xa vì vận nước nhưng chỉ thể hiện bằng những thái độ tiêu cực (Than thân trách phận buồn nản tuyệt vọng hy vọng mơ ước mộng mị chiêm bao và thoát tục : Một tính chất biểu hiện hiển nhiên trong vài năm gần đây tâm sự quan niệm đời sống của người nghệ sĩ (hay kẻ sĩ) rất phù hợp với vận nước cùng những cố gắng khai phá cho Thi ca một lối thoát). Sự chuyển biến tâm tư trên có thể giải thích tóm tắt : Quá Đau Khổ Ngao Ngán -> Thất Vọng -> Quá Thất Vọng -> Hy Vọng - > Trở Về Với Mình = Mộng / Ước / Chiêm Bao / Thoát Tục v.v.... Tất cả những trạng thái tình cảm quanh co nầy đã được ghi dấu trong "Tuyệt Huyết Ca" bằng một giọng trầm tĩnh trang trọng nhưng lại quá lâm li bi đát.

      Tình cảm đó là :

                  Mang mang cát bụi lên đường

                  Những xương máu cũ phai hường là đâu?

                  Trăng cổ độ ố mầu tang hải

                  Trải thu phần quan tái vài bông

                  Nao nao gió giục sang hồng

                  Rụng bao nhiêu cánh giữa lồng nhân sinh

      Ngậm ngùi thương cảm :

                  Ghé trong mây trắng môi cười

                  Một xe cát bụi xô người ra đi

      Và :

                  Vin sắc máu trong tòa hồng sử

                  Tay run mầu lữ thứ cô hương

                  Lạnh nghe hồn réo mười phương

                  Ngợp lòng hoa huyết buốt xương tương tàn

      Nồng nhiệt tha thiết :

                  Ta uống cạn trong giòng bích ngạn

                  Cuộn tâm bào ức vạn sinh linh

                  Quá giang ca ngộ cô tình

                  Lấp mầm sinh tử như mình như ai

                  Người thoáng hiện di hài cuối nguyệt

      Đoạn trường:

                  Hồn đau nhỏ máu tơ đồng

                  Mấy cung hồ gợn mênh mông gió gào

                  Sông nước chảy chiêm bao máu rạn

                  Chén vàng thanh ngồi nán đêm sương

Chán nản :

                  Mây trôi lớp lớp vô thường

                  Trời xanh còn lại con  đường chim bay

      Nhìn thấy:

                  Người vất vưởng tận hang cùng cốc

                  Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương

                  Máu khô thịt nát bên đường

                  Rợn mầu tinh huyết đò dương đắm chìm

      Và :

                  Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh

                  Vùi đó đây từng mảnh thân non

                  Đất bay đá chạy chi còn

                  Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh !

      Vì thế tâm sự :

                  Trường thu hận tan tành sông núi

                  Bao mạng người làm củi nung tim

                  Mây ơi chở nụ im lìm

                  Chở hồn hoa trắng bay tìm tình tang

      Tiếng kêu thương trầm thống còn vọng mãi muôn đời:

                  Nghìn thu trước ai tình xanh mắt

                  Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương

                  Cùng nhau về tụ đầu sương

                  Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa.

                  ........................................

      Không kể đến những tâm sự được giải bày mạch lạc trong một bố cục chặt chẽ (điều nầy cố ý hay vô tình ? Tác giả đã : "Ta cũng sầu mở quá độ chơi") phô diễn và liên kết từng dòng xúc cảm từng chặng thăng trầm như một lan tràn tươi mát của suối nguồn. Ngoài một lối sử dụng thể thơ song thất lục bát độc đáo mới lạ tuyệt vời nhất trong những áng thơ song thất lục bát đã có tự cổ chí kim (Tôi chịu trách nhiệm về những phát biểu đã nói hôm nay cho tới ngàn sau) không có một câu thơ nào trong 108 câu của "Tuyệt Huyết Ca" tì vết suy suyễn (mà bạn có biết là tại sao có 108 câu?). Tôi có thể ví như một xâu chuỗi hạt 108 hạt ngọc đều ngời sáng và quí giá như nhau. Không chú trọng tới những ưu điểm hình thức điều quan trọng tôi muốn nói lên khi chọn đọc "Tuyệt Huyết Ca" phân đoạn và dẫn chứng rằng không có sự phân chia nào trong Thi ca là thích hợp cho mỗi tác giả không cố định và bắt buộc phải chịu dán cái nhãn hiệu kỳ quặt xa lạ đối với họ (Thi sĩ) Rằng Thơ phải đọc bằng tâm hồn rung cảm tự nhiên đọc và mê man tàng tịch trong mỗi dòng mỗi chữ. Rằng thơ phải như thế - xúc cảm ; nồng nhiệt phẫn nộ hay đau xót hân hoan cũng phải chảy vào lòng người bằng ngõ ngách sâu khuất nhất của tâm hồn. Chứ không phải là một kỹ thuật dụng chữ. Dụng ngôn. Đao to búa lớn. Tôi có thể vắn tắt : Sự rung cảm truyền đạt bền bỉ và sâu sắc là phần quyết định chân giá trị của một thi phẩm chứ không phải : Viễn mơ Dấn thân Thiền hay một cái gì ngộ nghĩnh khác.

                               (Tuy Hòa tháng 6/1974)

More...